Kỷ niệm không quên của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh


25-09-2018
Năm 2012, trong một dịp sưu tầm hiện vật tại nhà của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 4, chúng tôi được ông kể lại câu chuyện vệ trận đánh của Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 tại đường 10 - Vĩnh Thiện (nay là huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước) ngày 10/8/1966. Trong trận đánh ác liệt ấy, ông kể rằng mình “suýt nữa là liệt sĩ”.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh sinh năm 1939, tại xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Nhập ngũ ngày 12/4/1963, biên chế thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 141, Sư đoàn 312. Tháng 02/1965 là Trung đội trưởng. Ngày 12/1/1966, trong đội hình Trung đoàn 141, ông cùng đơn vị hành quân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Trung đoàn 141 thuộc Đại đoàn 312 trưởng thành và có nhiều thành tích trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Để thành lập các đơn vị chủ lực trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trung đoàn nhận nhiệm vụ hành quân vào Nam cùng các đơn vị khác thành lập Sư đoàn 7.

Sau bốn tháng hành quân ròng rã, với nhiều vũ khí, trang bị; vượt muôn vàn khó khăn, gian khổ; chịu đựng biết bao gian lao và thử thách. Quân số lúc đầu hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ nhưng do điều kiện khó khăn, thiếu thốn đã làm nhiều chiến sĩ bị sốt rét, bệnh tật phải nằm lại dọc đường. Số còn lại vào được đến nơi gần như đuối sức. Nơi đóng quân rừng núi rậm rạp, ẩm thấp, đang giữa mùa mưa nên vào đến chiến trường, đơn vị còn lại hơn nửa quân số. Sau khi ổn định đội hình, trung đoàn biên chế 500 cán bộ, chiến sĩ thành một tiểu đoàn để tổ chức đánh trận đầu tiên, số còn lại thành lập một số đại đội.


Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh nhìn ngắm những kỷ vật của mình được trưng bày tại Bảo tàng Quân đoàn 4 - Ảnh BTQĐ4.

Ngày 10/8/1966, trong trận đánh ở Vĩnh Thiện (nay là Bù Đăng, Bình Phước), ông là trung đội trưởng có nhiệm vụ chủ công, đánh phục kích và tiêu diệt đại đội biệt kích người Thượng đi từ đồn Vĩnh Thiện ra đường 10.

Tuy nhiên, tổ chiến đấu của Nguyễn Ngọc Doanh rơi trúng vào ổ phục kích của địch, hai đồng chí đi bên cạnh ông bị trúng đạn hy sinh tại chỗ, còn Nguyễn Ngọc Doanh bị địch bắn đứt xương đùi, vỡ quai hàm. Địch dùng máy bay trực thăng bắn liên tiếp vào đội hình của ta để chặn đường rút quân. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt.

Đồng đội yểm trợ đưa ông về phía sau, do mất máu quá nhiều nên ông ngất lịm đi khiến đồng đội tưởng rằng đã hy sinh. Sau này, ông nghe đồng đội kể lại rằng buổi tối hôm ấy, đơn vị giao cho đồng chí Đinh Văn Lĩnh (dân tộc Mường, quê Phú Thọ) và đồng chí Bế Ích Quân (dân tộc Tày, quê Cao Bằng) chôn cất tử sĩ và đặt ông Doanh xuống hố đào sẵn, lấy võng đắp lên. Đồng chí Võ Văn Phẫu (quê Hải Dương) được cử lại canh gác, ngăn thú dữ và động vật ăn xác.

Sáng sớm hôm sau, khi đồng chí Lĩnh đang xúc đất đổ xuống, như có linh tính, đồng chí Bế Ích Quân (Tiểu đội phó) sực nhớ hôm trước khi ôm Nguyễn Ngọc Doanh vào lòng thấy chân không đi dép. Nghĩ thương đồng đội lúc chết còn không có dép để đi, đồng chí Quân định cởi đôi dép của mình đi cho anh Doanh.


Một số kỷ vật của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh tặng Bảo tàng Quân đoàn 4 - Ảnh BTQĐ4.

Khi sờ lòng bàn chân đồng đội, Quân hét lên: “Ngừng tay, chân anh ấy còn ấm!” Thế là anh em hì hục bới đất lôi ông lên khỏi hố chôn, nhanh chóng cõng về đơn vị cấp cứu.

Ông điều trị tại Bệnh viện K59, dốc 54 khu vực rừng Phước Long. Do mất máu, mất sức quá nhiều nên đúng 5 tháng 10 ngày, bác sĩ mới tiến hành mổ được vết thương, gắp đầu đạn ra, khâu vá vết thương trong điều kiện thiếu thốn đủ thứ.

Vết thương bình phục, cấp trên hỏi ông có tiếp tục chiến đấu được không? Ông trả lời chắc nịch: “Tôi còn bắn súng tốt”. Nguyễn Ngọc Doanh quay trở lại làm Chính trị viên đại đội đi đánh trận Tân Hưng và bị bắn nát xương gót chân. Y tá nhặt xương ra, khâu thịt vào, ông bước đi bằng nửa bàn chân nhưng quyết không từ bỏ chiến trường.

Ông Doanh rưng rưng nước mắt: “Tôi còn sống đến ngày này là nhờ có tình đồng chí, tình anh em của Bế Ích Quân và các đồng đội. Tiếc rằng trong số những đồng đội thân yêu đó của tôi, có người đã hy sinh. Người lính chúng tôi lúc ra trận xác định là chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc cho nên thanh thản lắm. Lòng chúng tôi chỉ thắt lại khi chứng kiến cảnh đồng đội của mình ngã xuống”.


Bi đông của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh - Ảnh BTQĐ4.

Năm 1992, ông nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong những ngày điều trị, điều dưỡng, ký ức những đồng đội đã hy sinh lại hiện về, thôi thúc ông tham gia vào hành trình tìm kiếm hài cốt của các liệt sĩ còn nằm lại trên chiến trường xưa. Bốn lần bị thương chí tử, chưa kể những trận sốt rét kinh hoàng đeo bám, chính ông cũng không thiểu nổi vì sao mà ngày ấy mình không chết.

Từ năm 1993 đến nay, vị tướng trận mạc mang trên mình thương tật nặng nề (mất 78% sức khỏe) nhưng không quản ngại khó khăn, tuổi tác tiếp tục tìm kiếm hài cốt đồng đội đưa họ về với gia đình và quê hương. Hiện nay, ông là Giám đốc Trung tâm thông tin tìm kiếm hài cốt liệt sĩ phía Nam (thuộc Hội hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam).

Chiến tranh đã lùi xa, câu chuyện lịch sử vẫn mãi hiện về trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh nói riêng và các Cựu chiến binh nói chung trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Cuối buổi gặp mặt và nói chuyện, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh đã trao tặng lại một số kỷ vật cho chúng tôi như: bi đông, dao găm, ấm nước… Đó là những kỷ vật gắn với quá trình chiến đấu được ông trân quý, gìn giữ nay được Bảo tàng Quân đoàn 4 lưu giữ và phát huy giá trị lịch sử./.


Nguồn: Lê Gấm – Bảo tàng Quân đoàn 4
25-09-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Ký ức về trận đánh trên cao điểm 875 Đắk Tô (tháng 11/1967)

Trận quyết chiến của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại cao điểm 875 trên vùng rừng núi Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 1967 đi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức trận chiến ác liệt ngày đó vẫn không phai mờ trong tâm trí của những lính trực tiếp chiến đấu, trong đó có Cựu chiến binh Nguyễn Trần Kiêm.

Nhân vật LSQS

Anh hùng Trần Ngọc Chung

Anh hùng, liệt sĩ Trần Ngọc Chung sinh năm 1930, quê ở xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nhập ngũ tháng 10/1950, hy sinh tháng 3/1979 khi thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn...

s