Kỷ niệm của người chiến sĩ Tàu không số


20-10-2016
Để chuẩn bị cho đợt kỷ niệm 55 năm Đường Hồ Chí minh trên biển (23/10/1961-23/10/2016), trong đó có buổi Giao lưu được truyền hình trực tiếp tại Bảo tàng Hải quân. Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam đã mời các đồng chí Cựu chiến binh đoàn Tàu không số đến Bảo tàng Hải quân để quay phim, trong dịp đó tôi đã được nghe đồng chí Trung tá Lưu Công Hào – nguyên thủy thủ tàu C43B kể câu chuyện về những ngày ông cùng các thủy thủ tàu C43B chiến đấu với địch và điều trị tại bệnh xá Đặng Thùy Trâm – Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Trong cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đề ngày 10.4.1968 bác sĩ Trâm viết: “Vậy là chiều nay, các anh lên đường để lại cho mọi người một nỗi nhớ mênh mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại bóng dáng các anh: Những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp, những câu thơ thắm thiết yêu thương... Bỗng dưng một nỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong mình như mặt sông những ngày mưa lũ và... mình khóc ròng đến nỗi không đáp lại lời chào của mọi người. Thôi! Các anh đi đi, hẹn ngày gặp lại trên miền Bắc thân yêu”.

Nhật ký của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm (Ảnh: Sưu tầm).

Theo đồng chí Lưu Công Hào, đó chính là những dòng viết về buổi chia tay anh em tàu C43B ngày ấy. 

Ông bắt đầu câu chuyện với giọng nói hào sảng và ánh mắt đầy tự hào. Đêm ngày 27/2/1968, tàu C43B nhận nhiệm vụ “đặc biệt” là chở 37 tấn vũ khí vào bến Ba Làng An (Quảng Ngãi). Đặc biệt bởi đây là chuyến tiếp tế vũ khí cho quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Bộ Tư lệnh Hải quân và Lữ đoàn 125 nhận được  kế hoạch tuyệt mật từ Bộ Tổng Tham mưu. Theo đó, Lữ đoàn 125 Hải quân chuẩn bị 4 tàu xuất phát ở 4 địa điểm khác nhau trong một đêm. Cho 4 tàu cùng xuất phát một lúc và đi theo 4 hướng là một cách làm phân tán sự theo dõi của địch trên biển, tàu nào không vào được bến thì nghi binh để thu hút địch cho tàu khác vào. Sau khi cân nhắc, chỉ huy Lữ đoàn 125 đã chọn 4 tàu làm nhiệm vụ đặc biệt này, trong đó có tàu C43B.

Trước đó, ngày 14/3/1967 trong chuyến chở hàng vào bến Sa Kỳ (Quảng Ngãi) tàu gặp địch, đội tàu C43 đã chiến đấu anh dũng và buộc phải hủy tàu để giữ bí mật, sau đó theo đường bộ trở lại đơn vị. Đội được nhận tàu mới và mang số hiệu C43B. Trong chuyến đi này tàu có 17 cán bộ, chiến sĩ; gồm Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng, Chính trị viên Trần Quốc Tuấn, hai Thuyền phó Nguyễn Xuân Thơm và Nguyễn Văn Đức. Ba chiến sĩ cơ điện: Nguyễn Đăng Năm, Nguyễn Trọng Tài, Nguyễn Thành Thoảng. Hai báo vụ: Phan Đình Thọ, Huỳnh Ngọc Hoa. Tám thủy thủ: Võ Nho Tòng, Nguyễn Xuân Nghinh, Trần Hương Hóa, Lê Văn Quý, Vũ Văn Hoành, Vũ Văn Ruệ, Phạm Văn Kiểm và tôi (Lưu Công Hào).

Nửa đêm 29/2, khi tàu vào cách bờ 12 hải lý thì gặp 6 tàu địch bao vây, nổ súng bắn tới tấp. Trên không, mấy chiếc trực thăng quần đảo, bắn  rốc-két  xuống tàu. Thuyền trưởng Thắng ra lệnh cho anh em tập trung hỏa lực chiến đấu, vừa bắn trả vừa cơ động nhanh vào bờ. Một máy bay lên thẳng của địch trúng đạn rơi xuống biển. Một chiếc máy bay khác bị thương lao vào bờ. Một tàu chiến địch tiến gần vào tàu ta bị trúng đạn ĐKZ bốc cháy. Bị chống trả  dữ dội, tàu địch giãn ra. Lợi dụng thời cơ, Thuyền trưởng cho tàu chạy lên hướng bắc, lập tức bị 2 tàu địch lao tới đánh chặn. Tàu C43B quay ngoắt 180 độ, chạy về hướng nam nhưng vẫn bị  tàu chiến và máy bay địch chặn lại. Không thể mở vòng vây, tàu ta vừa tránh đạn vừa bắn trả địch và tăng tốc chạy vào gần bờ. Suốt mấy giờ quần nhau với địch đông gấp nhiều lần, tàu ta bị đạn địch găm thủng nhiều chỗ. Chiến sĩ hàng hải Vũ Văn Ruệ và y tá Võ Nho Tòng hy sinh, nhiều đồng chí bị thương nặng. Trước tình thế cam go, nhận định nếu tiếp tục đánh trả sẽ có thêm nhiều đồng chí hy sinh và địch có khả năng cướp tàu, Chi ủy quyết định cho mọi người khẩn trương bơi lên bờ và hủy tàu. Lúc đó khoảng 1 giờ ngày 1 tháng 3 năm 1968, Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng phân công Chính trị viên Tuấn đưa thương binh, liệt sĩ vào bờ, hai Thuyền phó Thơm và Đức cùng Thuyền trưởng ở lại hủy tàu, hủy tài liệu. Điểm hỏa xong mọi người kiểm tra lại lần cuối rồi nhảy xuống nước bơi vào bờ. Tàu địch vẫn không ngừng nhả đạn về phía tàu ta, Phạm Văn Kiểm nhảy xuống biển thì trúng đạn địch hy sinh...

 

Đồng chí Lưu Công Hào – nguyên thủy thủ tàu C43B kể lại câu chuyện thủy thủ tàu C43B chiến đấu với địch và điều trị tại bệnh xá Đặng Thùy Trâm – Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Ba đồng chí hy sinh được chuyển vào bờ. 14 người còn lại thì 12 đồng chí bị thương. Chúng tôi dìu nhau vào bờ được du kích và bà con xã Phổ Thiện cấp cứu, bảo vệ, đưa vào hầm bí mật từng gia đình che giấu, tránh sự truy lùng gắt gao của địch. Hơn một tuần sau, du kích địa phương vừa chiến đấu vừa nghi binh địch, đưa 14 chiến sĩ tàu không số C43B bị thương vượt Quốc lộ 1A chuyển lên vùng căn cứ Ba Tơ. Các thương binh được anh em du kích cáng lên bệnh xá, nhưng hai đêm liền đều gặp phục kích phải quay lại, đêm thứ ba mới thoát được. Gần hai ngày xuyên rừng, chiều tối hôm sau chúng tôi mới được đưa vào điều trị tại trạm xá dân y huyện Đức Phổ nằm giữa khu rừng thưa, cây cối loang lổ, khô héo vì địch rải chất độc hóa học. Đây là bệnh xá do bác sĩ Đặng Thùy Trâm, người Hà Nội phụ trách. Nhìn thấy 14 người bị thương được chuyển tới, chị không nói gì nhưng biết chúng tôi là dân đường mòn bí mật biển Đông. Chị bảo: “Các anh phải ở lại đây đã, chưa được đi đâu hết. Phải chữa cho lành các vết thương. Rồi bồi dưỡng cho lại sức để còn leo Trường Sơn”

Ở đây, thuốc men, dụng cụ cấp cứu thiếu thốn, lương thực chủ yếu là củ sắn. Bệnh xá đói, chị Trâm và các nhân viên của chị cũng đói. Nhưng chúng tôi vẫn được nuôi rất chu đáo. Mấy ngày sau 3 người của trạm xá phải đi ba bốn ngày đường xuống đồng bằng nhờ cơ sở mua gạo và thuốc mang về cứu chữa thương binh. Trên đường về gặp địch một chị đã hi sinh. Những ngày tôi điều trị tại bệnh xá được chị Đặng Thùy Trâm coi như một đứa em trai.

14 chiến sĩ tàu C43B điều trị tại Bệnh xá Đặng Thùy Trâm (Ảnh: Báo Thanh niên).

Kể đến đây mắt đồng chí Lưu Công Hào đã ngấn lệ, ông dừng lại vài giây như để trấn an tinh thần rồi kể tiếp: 

Sau một tháng điều trị, vết thương đã dần khỏi, anh em chúng tôi được lệnh gấp rút lên đường vượt Trường Sơn ra Bắc về đơn vị để đi những chuyến tàu mới. Trước khi anh em lên đường, chị Thùy Trâm và anh em trong trạm xá Đức Phổ đã khâu những mảnh dù của Mỹ thành ba lô, túi xách, ruột tượng và chuẩn bị áo quần, gạo, muối, thuốc men cho các thủy thủ đi đường. Ngày chia tay, chị nắn nót ghi vào cuốn sổ nhỏ của tôi:

28.3.1968

Hào, em thương quý.

Gặp em chị như thấy lại cả quê hương trong đôi mắt nhìn thắm thiết, trong giọng nói quen thân, trong tiếng cười ấm áp của em.

Muốn nói cho em nghe tất cả từ nỗi nhớ, niềm thương của một người con xa quê, đến sự sung sướng tự hào vì được gặp em trong cuộc chiến đấu vĩ đại này và những suy nghĩ về riêng tư của chị nữa… Nhưng có lẽ có dịp nào đó chị sẽ viết thư nói cho em nghe, nếu như ra đi em vẫn còn nhớ, còn thương người chị  MB này. Bây giờ thời gian ngắn ngủi chị chẳng biết nói gì cho đủ, gửi vào trang sổ nhỏ này tình thương đậm đà như màu đất quê hương của chị. Hãy gìn giữ lấy nó nghe em. Mong ước một ngày không xa nữa, chị sẽ đến Đồ Sơn nghỉ mát và... 1 buổi chiều nào đó trên bãi biển Đồ Sơn chị lại được gặp em, được nắm tay em (cánh tay đau đã làm em mất ngủ mấy đêm ở trạm này lúc ấy đã lành từ lâu rồi e nhỉ).

Nhớ gửi thư nhiều cho chị nghe em.

Thương nhớ em mãi.

Ngoài những dòng lưu bút là địa chỉ của người em gái Đặng Phương Trâm, địa chỉ gia đình để khi về đến Hà Nội sẽ ghé thăm. Chị dặn tôi: “Em hãy đến nhà chị chơi vào một ngày chủ nhật”.. Sau ba tháng vượt Trường Sơn, chúng tôi đã về đến hậu phương, nhưng công việc của những người lính tàu không số luôn bí mật nên tôi không thể đến thăm gia đình chị và cô em gái Phương Trâm như chị dặn dò…

Gần 50 năm trôi qua nhưng kỷ niệm về cuộc gặp gỡ với chị Đặng Tùy Trâm năm ấy luôn in đậm trong trái tim người thủy thủ tàu Không số. Ông luôn nâng niu, gìn giữ cuốn sổ nhỏ và tấm ảnh chị Đặng Thùy Trâm tặng. Năm 2007, đồng chí Lưu Công Hào đã tặng lại những hiện vật quý này cho Bảo tàng Hải quân để làm công tác tuyên truyền.

Cuốn sổ này hiện được lưu giữ và trưng bày tại phần “Mở đường Hồ Chí Minh trên biển, vận chuyển chi viện chiến trường miền Nam (1961-1975)” của Bảo tàng Hải quân./.

*Ghi theo lời kể của đồng chí Trung tá Lưu Công Hào – Nguyên thủy thủ tàu C43B.


Nguồn: Lê Thanh Hằng/ Bảo tàng Hải Quân
20-10-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Ký ức về trận đánh trên cao điểm 875 Đắk Tô (tháng 11/1967)

Trận quyết chiến của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại cao điểm 875 trên vùng rừng núi Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 1967 đi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức trận chiến ác liệt ngày đó vẫn không phai mờ trong tâm trí của những lính trực tiếp chiến đấu, trong đó có Cựu chiến binh Nguyễn Trần Kiêm.

Nhân vật Sự kiện

Bức tranh ở Thượng Đức

Cơ duyên đặc biệt để các Cựu chiến binh gặp lại chính mình trong bức tranh về Thượng Đức đầu năm 1975 hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng của cố họa sĩ Nguyễn Đức Hạnh.

s