Hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Phủ


09-05-2019
Công tác hậu cần cho chiến dịch Điện Biên Phủ trên địa bàn rừng núi xa hậu phương 500 - 700km là một thử thách khó khăn đối với ngành hậu cần. Tuy nhiên, với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, công tác hậu cần đã làm tròn chức năng là khâu nối liền hậu phương với tiền tuyến. Đây là một trong những điều kiện quan trọng, một nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ngày 06/12/1953, Hội nghị Bộ Chính trị đã họp và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, cử đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp chỉ huy chiến dịch; đồng chí Phạm Văn Đồng là Chủ tịch Hội đồng cung cấp mặt trận, trực tiếp chỉ đạo các ngành kinh tế tài chính ở Trung ương dốc sức chi viện cho tiền tuyến; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị vào Thanh Hóa; đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng về Liên khu 3 trực tiếp phổ biến nhiệm vụ, hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương huy động nhân lực, vật lực phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.

Với quyết tâm đảm bảo cho chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, nhân dân cả nước đã tích cực đóng thuế nông nghiệp, bán thực phẩm, vừa cho vay vừa ủng hộ để cung cấp tiếp tế cho bộ đội, nhân dân vùng tạm chiếm thì đóng góp bằng tiền của. Từ năm 1951 đến năm 1954, từ Liên khu 5 trở ra, nhân dân đã đóng góp 1.322.600 tấn thóc và một số tiền tương đương 1.500.000 tấn.


Từng đoàn dân công ngụy trang gánh gạo ra tiền tuyến, năm 1954. Ảnh tư liệu BTLSQSVN.

Về giao thông vận tải, từ năm 1950 đến năm 1954, đã khôi phục và mở rộng 3.670km đường cũ, làm mới 505km đường trong đó có 2.080km đường giao thông vận tải chiến lược, từ biên giới Việt - Trung xuyên qua Việt Bắc sang Tây Bắc (tới Lai Châu, Điện Biên Phủ), xuống Liên khu 3, vào Liên khu 4.

Nhân dân ở hậu phương và nhân dân Liên khu Việt Bắc đua nhau đi dân công vượt mức quy định với trên 20 vạn dân công, thanh niên xung phong với trên 10 triệu ngay công phục vụ; riêng lực lượng thanh niên xung phong lúc cao điểm của chiến dịch lên tới 14.000 người. Những người dân công sẵn sàng chỉ ăn rau dại, măng rừng và chút ít gạo buộc ở ghi đông xe đạp thồ, tuyệt đối không động vào gạo chở lên Điện Biên Phủ; dân công nằm nghỉ trên những tấm ni lông trải dưới đất. Mỗi chiếc xe đạp thồ chở được 150kg đến 200kg. Dân công Ma Văn Thắng (Phú Thọ) đã cải tiến nâng trọng tải chiếc xe lên 337kg.

Hậu cần quân đội đã cùng cán bộ chỉ huy chiến dịch hướng dẫn cho chiến sĩ tạo điều kiện “bình thường hóa sinh hoạt ở trận địa”. Hầm sinh hoạt được củng cố, có rãnh thoát nước, có dù lát trần và vách, bếp Hoàng Cầm được xây dựng ở ngay trận địa, các chiến sĩ được luân phiên về phía sau để tắm giặt, nghỉ ngơi. Điều kiện sinh hoạt được bình thường hóa đã nâng cao sức khỏe và tinh thần chiến đấu của bộ đội.

Việc cứu chữa thương binh có nhiều tiến bộ. Các trạm quân y tuyến chiến thuật cấp cứu kịp thời và chuyển nhanh thương binh về tuyến chiến dịch. Tuyến quân y chiến dịch đã triển khai các bệnh viện chuyên điều trị thương binh nhẹ, thương binh nặng và bệnh binh. Việc vận chuyển thương binh, bệnh binh trên đường dài về các bệnh viện hậu phương được tổ chức chu đáo. Mỗi xe ô tô chuyển thương binh là một “bệnh xá lưu động”, mỗi tổ cáng thương binh (không đi được xe ô tô vận tải) là “một gia đình thân yêu”.


Dân công Liên khu 3 xay lúa phục vụ chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Ảnh tư liệu BTLSQSVN.

Trong 210 ngày (từ tháng 11/1953 đến tháng 5/1954), quân số hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ là 3.168 người, phân bố trong 7 đội điều trị, 1 đội vận tải ô tô gồm 446 xe, Binh trạm 18 và trạm điều chỉnh giao thông, kho quân nhu, quân khí; lực lượng tăng cường có 4 tiểu đoàn công binh sửa đường; 2 đại đội thông tin; 2 tiểu đoàn 37mm (24 khẩu) và đại đội 12,7mm. Lực lượng dân công gồm 261.500 người, với 3 triệu ngày công, 20.991 xe đạp thồ, 11.800 bè mảng, 500 ngựa thồ. Lương thực, thực phẩm cung cấp trong chiến dịch bao gồm 25.056 tấn gạo (trong đó Việt Bắc là 5.229 tấn, Liên khu 3 là 1.464 tấn, Liên khu 4 là 9.052 tấn, Tây Bắc là 7.331 tấn, khu vực Nậm Hu và Thượng Lào là 2.000 tấn); 907 tấn thịt (trong đó Việt Bắc là 454 tấn, Liên khu 3 là 64 tấn, Tây Bắc là 389 tấn); 917 tấn các loại thực phẩm khác; 1.860 lít dầu ăn và 280kg mỡ; 71 tấn quân trang; 1.783 tấn xăng dầu; 55 tấn thuốc và dụng cụ quân y; Điều trị cho 10.130 thương binh và bệnh binh (chưa tính số thương bệnh binh của thực dân Pháp).

Về vũ khí, đạn dược, công tác hậu cần đã đảm bảo 1.285.000 viên đạn trung liên; 907.000 viên đạn tiểu liên; 4.150 viên đạn ĐKZ 57mm; 4.000 viên đạn ĐKZ 75mm; 1.820 viên đạn BZK 90mm; 21.800 viên đạn cối 60mm; 35.993 viên đạn cối 81mm và 82mm; 4.360 viên đạn cối 120mm; 3.574 viên đạn pháo 75mm; 15.118 viên đạn pháo 105mm; 40.000 viên đạn cao xạ 37mm; 706.600 viên đạn cao xạ 12,7mm; 96.480 quả lựu đạn; 27,5 tấn thuốc nổ; 4.950 chiếc cuốc; 8.700 chiếc xẻng; 2.920 con dao. Tổng khối lượng cung cấp cho chiến dịch Điện Biên Phủ là 30.759 tấn, trong đó tiêu thụ hết 19.989 tấn[1].

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: “Chưa bao giờ trong suốt mấy năm kháng chiến, dân ta đã góp công sức nhiều như trong Đông Xuân 1953 - 1954 để chi viện cho quân đội đánh giặc… Bọn đế quốc… không bao giờ đánh giá được sức mạnh của cả một dân tộc, sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó có thể khắc phục được tất cả mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ địch”[2].

Chiến thắng Điện Biện Phủ không chỉ là chiến thắng của một đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo; chiến thắng của một tinh thần đấu tranh anh dũng, kiên cường mà hơn hết đó là chiến thắng của tinh thần yêu nước, sự đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ hết lòng của hậu phương đối với tiền tuyến Điện Biên./.


[1] “Chiến thắng Điện Biên Phủ cột mốc vàng lịch sử” Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2014

[2] Võ Nguyên Giáp, “Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước”, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 158 - 159.


Nguồn: Thanh Tâm
09-05-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Ký ức về trận đánh trên cao điểm 875 Đắk Tô (tháng 11/1967)

Trận quyết chiến của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại cao điểm 875 trên vùng rừng núi Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 1967 đi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức trận chiến ác liệt ngày đó vẫn không phai mờ trong tâm trí của những lính trực tiếp chiến đấu, trong đó có Cựu chiến binh Nguyễn Trần Kiêm.

Nhân vật Sự kiện

Đặng Hồng Sơn – người chiến sĩ cộng sản kiên cường

“Có những phút làm nên lịch sử/ Có cái chết hóa thành bất tử/ Có những lời hơn mọi bài ca/ Có con người như chân lý sinh ra…” Xin được mượn những dòng thơ của Tố Hữu viết về người anh hùng Nguyễn...

s