Gùi hàng của anh hùng Hồ A Nun


23-06-2019
Nhìn chiếc gùi nam (tiếng Pa kô là Ti lết) và chiếc gùi nữ (Tu niêng) được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4 giản đơn và có phần cũ kỹ vì năm tháng, nhưng lại mang trong đó những câu chuyện cảm động về tinh thần dũng cảm, mưu lược của kiện tướng thồ hàng Hồ A Nun trong mỗi chuyến công tác trên các cung đường vận tải đầy gian nan và rất đỗi tự hào. Với những chiếc gùi như thế, trong 8 năm công tác (1961 – 1969), Hồ A Nun đã gùi được 179 tấn (tương đương một đoàn xe ô tô vận tải bấy giờ) lương thực, đạn dược cho chiến trường.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ A Nun quê ở làng Thượng Ninh, huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế (là em ruột của Anh hùng LLVTND Hồ Kan Lịch, cháu Anh hùng LLVTND Hồ Đức Vai) người lập kỷ lục trong lịch sử về gùi đạn dược, lương thực trên tuyến đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Năm 11 tuổi, Hồ A Nun tham gia làm liên lạc cho cán bộ cách mạng địa phương. 14 tuổi tình nguyện tham gia vận chuyển hàng ở tuyến đường A Lưới. Tháng 7/1961, sau khi hoàn thành nhiệm vụ chuyển hàng từ tuyến đường Quảng Trị vào Quảng Nam, đồng chí xung phong ở lại tuyến vận tải Khu 5 tiếp tục tham gia gùi, thồ hàng vào chiến trường. Trong suốt thời gian công tác, A Nun đã anh dũng, sáng tạo, không quản ngại khó khăn, liên tục lập nhiều thành tích xuất sắc. Anh nghiên cứu cách làm bè vượt sông, vượt thác có hiệu quả nhất, cải tiến dây mang hàng để nâng cao số lượng hàng vận chuyển mỗi chuyến. Có lần được giao nhiệm vụ vận chuyển nòng pháo nặng mà thông thường phải 8 người khiêng, anh đã nghĩ ra cách cải tiến đòn khiêng để chỉ cần 4 người cũng vận chuyển được. Ngày 2/2/1963, đồng chí được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam.


Anh hùng Hồ A Nun. Ảnh Internet.

Tháng 9 năm 1965, Mỹ tập trung Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 án ngữ ở An Khê (Gia Lai) ngăn chặn quân ta, cắt Tây Nguyên với vùng đồng bằng ven biển. Trong bối cảnh đó, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thay đổi chủ trương từ giải phóng phía Bắc Tây Nguyên sang hạ quyết tâm mở chiến dịch Plây Me nhằm mục đích phối hợp với chiến trường toàn miền Nam tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ để mở rộng và củng cố vùng giải phóng, xây dựng căn cứ, rèn luyện bộ đội và cơ quan chiến dịch. Tham gia phục vụ vận tải trong chiến dịch Plây Me, Hồ A Nun đã nghĩ ra cách đóng giá đỡ hàng chắc, gọn, nâng cao hiệu suất vận chuyển hàng lên 1,5 lần mỗi chuyến, phục vụ kịp thời nhu cầu cho chiến trường và góp phần không nhỏ trong thắng lợi của chiến dịch.

Cuối năm 1967, chiến trường đòi hỏi số lượng hàng hoá lớn, tuyến vận tải lại bị địch đánh phá liên tục và ngày càng ác liệt, Hồ A Nun lúc này là Trung đội trưởng vận tải gùi thồ tại Binh trạm 7 (Đoàn Bình Sơn), thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn, anh đã động viên đồng đội khắc phục khó khăn, tự mình gương mẫu mang tăng số lượng hàng từ 80kg lên 120kg, 150kg mỗi chuyến. Kết quả, 7 tháng đầu năm 1968, trung đội của A Nun đã dẫn đầu năng suất trong ngành vận tải.

Cũng trong những năm tháng khói lửa ấy, có những lúc Hồ A Nun trèo đèo lội suối, gùi sau lưng tới gần 200kg đạn dược, lương thực. Chiến dịch năm 1968, có lần A Nun gùi trên lưng 4 đầu đạn trên 100kg, ngoài ra còn có súng đạn, lương thực… trèo lên dốc cao, bơi dưới suối với quãng đường trên 30km mà không rơi một viên đạn.


Gùi hàng của Anh hùng Hồ A Nun hiện được lưu giữ và phát huy giá trị lịch sử tại Bảo tàng Quân khu 4. Ảnh BTQK4.

Ghi nhận thành tích xuất sắc của Hồ A Nun, ngày 20/12/1969 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam. Năm 1970, sau khi bị thương nặng trong một lần vận chuyển hàng từ Kon Tum vào Gia Lai, đồng chí được đưa ra miền Bắc điều trị. Đất nước hoàn toàn giải phóng, đồng chí công tác tại Ban Chỉ huy quân sự huyện A Lưới.

Hồ A Nun rời quân ngũ với quân hàm Thiếu tá, thương binh 1/4. Cùng với người chú là Anh hùng Hồ Đức Vai (người dân tộc đầu tiên ở miền Nam được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1965. Ông được gặp Bác Hồ 4 lần; là người đầu tiên được Bác đặt họ Hồ) và chị gái Hồ Kan Lịch (với 49 trận chiến, hạ 150 tên địch, một mình bắn rơi 1 chiếc máy bay địch chở trên 50 quân lính và nhiều trận chiến oanh liệt khác; 7 lần vinh dự được gặp Bác Hồ), lặng lẽ sống bên bản làng, bà con thân thuộc, với cuộc sống rất giản đơn mà cũng rất đỗi đầm ấm, thương yêu. Sự cống hiến và tinh thần chiến đấu kiên cường của Anh hùng Hồ A Nun đã trở thành niềm tự hào của người dân A Lưới, như cây cổ thụ trên đại ngàn Trường Sơn trong chiến tranh và cả lúc đất nước hoà bình./.


Nguồn: Hồng Thanh - Bảo tàng QK4
23-06-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Ký ức về trận đánh trên cao điểm 875 Đắk Tô (tháng 11/1967)

Trận quyết chiến của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại cao điểm 875 trên vùng rừng núi Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 1967 đi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức trận chiến ác liệt ngày đó vẫn không phai mờ trong tâm trí của những lính trực tiếp chiến đấu, trong đó có Cựu chiến binh Nguyễn Trần Kiêm.

Nhân vật Sự kiện

Người anh hùng trên sông Pô Cô

“Hỡi Pô Cô ơi! Dòng sông mênh mông. Đôi bờ cây xanh biếc nước chảy xiết sâu thẳm. Qua tháng ngày hỏi sông ơi có biết Anh lái đò tên gọi A Sanh A Sanh…”. “Đây bất khuất Tây nguyên cao cao Núi mây...

s