Cuốn nhật ký của người lính Sư đoàn Sao Vàng


16-03-2018
Đối với Cựu chiến binh Nguyễn Bá Hạnh, có lẽ tài sản lớn nhất trong cuộc đời quân ngũ là cuốn nhật ký ghi lại quá trình 14 năm tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lần giở từng trang ký ức về một thời hoa lửa của ông, thế hệ hôm nay có lẽ sẽ hiểu thêm về những khó khăn gian khổ, những cống hiến, hy sinh to lớn của thế hệ cha anh trong cuộc kháng chiến trường kỳ cứu nước.

Ông Nguyễn Bá Hạnh sinh năm 1943 tại thôn Đặng Giang, xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội, một vùng quê nghèo nhưng giàu truyền thống cách mạng. Tháng 4/1962, khi vừa tròn 19 tuổi, ông gác lại những hoài bão của tuổi trẻ, xếp bút nghiên mực, hăm hở tình nguyện khoác ba lô vào chiến trường vì lý tưởng cao đẹp quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập tự do của Tổ quốc.

Từ năm 1962 đến năm 1963, ông là chiến sĩ thuộc Sư đoàn 308, sau đó ông được huấn luyện bộ đội Phòng hóa và hành quân vào miền Nam tham gia chiến đấu. Tháng 2/1966, ông thuộc biên chế Trung đoàn 2, Sư đoàn Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao Vàng), Quân khu 5.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng những ký ức về cuộc chiến, về một thời đạn bom vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim, khối óc của người cựu chiến binh Nguyễn Bá Hạnh. Đối với ông, có lẽ tài sản lớn nhất trong cuộc đời quân ngũ còn sót lại của mình là cuốn nhật ký ghi lại 14 năm tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.


Chân dung người lính Nguyễn Bá Hạnh.

Cuốn nhật ký gồm 128 trang ghi lại những tâm sự, suy nghĩ từ lúc lên đường nhập ngũ, tham gia huấn luyện và một số nội dung học tập, công tác, chiến đấu tại tại chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… đến khi tháng 11/1976.

Trang đầu cuốn nhật ký, ông ghi lại cảm xúc, nhiệt huyết của tuổi 19 trong ngày lên đường nhập ngũ: “Năm nay vừa tròn mười chín/ Tuổi đời tôi đã được bao nhiêu/ Tôi muốn chuyền, tôi muốn bay/ Nhưng vì đất nước vơi đầy non sông/ Còn chia cắt, kẻ thù còn đó. Ngày 10/4/1962, tôi vào bộ đội”.

Những trang nhật ký được ghi chép đều đặn, suốt chặng đường dài dọc đất nước được tận mắt chứng kiến cảnh đồng bào phải chịu đau thương vì bom đạn của đế quốc Mỹ, ông viết: “38 ngày đêm qua đất Thanh Hóa đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh… Nơi mà vốc một nắm đất lên thì mảnh bom đạn còn nhiều hơn đất, trong đất khét mùi đạn bom của Mỹ”.


Cuốn Nhật ký của ông Nguyễn Bá Hạnh.

Cuốn nhật ký ghi lại những câu chuyện gặp trên đường ra trận, tấm gương những người đồng chí, đồng đội chiến đấu, hy sinh dũng cảm. Biết bao lần chứng kiến cảnh đồng đội hy sinh có lẽ vẫn là điều ám ảnh nhất đối với Cựu Chiến binh Nguyễn Bá Hạnh, ông viết: “Ngày nào cũng đánh địch, ngày nào cúng có thương vong, khi đánh địch tràn vào căn cứ có đồng chí hy sinh cạnh chốt của địch, phải 5 ngày sau mới chôn được anh em bằng cách bò vào phủ nilon lên người, xúc đất đổ kín lên, lấy đá chèn xung quanh nhìn cảnh đó lòng tôi đau xót vô cùng”.

Những trang nhật ký tiếp theo từ tháng 10/1966 đến tháng 4/1975, ông ghi lại khá chi tiết, cụ thể quá trình cùng đơn vị tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định đồng thời thể hiện rõ lửa nhiệt huyết, ý chí quyết tâm giết giặc của mình ngay trong trận đầu.

Suốt gần 10 năm trận mạc, ông đã tham gia gần 40 trận đánh, đặc biệt là các trận đánh Chi Phổ (Mộ Đức, Quảng Ngãi) năm 1967; trận Gò Huỷnh (Tư Nghĩa, Quảng Ngãi) năm 1968; Trận cầu Nước Mặn (huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi) năm 1969; trận An Hòa (Quảng Ngãi) năm 1971; các trận đánh địch quanh thị xã Quy Nhơn, giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Định năm 1975.


Nhật ký ghi lại quá trình 14 năm tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ông Nguyễn Bá Hạnh.

Vượt lên trên những khó khăn gian khổ, cam go, khốc liệt của cuộc chiến, ở người lính Nguyễn Bá Hạnh luôn sáng lên một tinh thần thép của người chiến sĩ cộng sản kiên trung: “Chiến tranh có thể tàn phá mọi thứ. Duy chỉ có một thứ chiến tranh không thể làm gì được, đó là mục tiêu lý tưởng, khát vọng hòa bình và ý chí đấu tranh của người lính cụ Hồ”.

Trong cuốn nhật ký của mình, ông còn dành một mảng riêng ghi lại những dòng thấm đẫm yêu thương nỗi nhớ quê hương, gia đình, vợ con. Chiến tranh ác liệt, thư từ đi lại khó khăn nên những dòng nhật ký đã trở thành những cánh thư không gửi đầy nỗi niềm đau đáu với hậu phương.

Trong bức thư viết cho mẹ, ông viết: “Con biết mẹ luôn ngóng tin con và chờ đợi con về. Nhưng con biết làm sao đây hả mẹ, con chỉ biết lau nước mắt, nuốt hận, căm thù giặc mà thôi… Con mong một ngày gần đây con được về bên mẹ, được nhặt củi, nấu cơm, gánh nước đỡ đần cho mẹ, mẹ ơi!”.


Ông Nguyễn Bá Hạnh trao tặng cuốn nhật ký cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tháng 6/2016.

Trang cuối nhật ký là những dòng thể hiện ý chí quyết tâm của người chiến sĩ cộng sản mẫu mực: “Không ai muốn chiến tranh xảy ra, nhưng nếu kẻ thù lại xâm lược đất nước thì dù hy sinh gian khổ gấp mấy chúng ta – tôi vẫn xung phong ra trận để tiêu diệt kẻ thù xâm lược.

Cuốn sổ nhật ký được ông Nguyễn Bá Hạnh cất giữ suốt 40 năm qua. Tháng 6/2016, ông trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử.

Thông tin viết trong cuốn nhật ký sẽ giúp chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ phần nào hiểu thêm được những khó khăn gian khổ, những cống hiến, hy sinh to lớn của thế hệ cha anh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Dù phải hy sinh nhưng quyết không lùi bước, không chịu khuất phục trước kẻ thù./.


Nguồn: Cao Phương Thảo
16-03-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Ký ức về trận đánh trên cao điểm 875 Đắk Tô (tháng 11/1967)

Trận quyết chiến của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại cao điểm 875 trên vùng rừng núi Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 1967 đi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức trận chiến ác liệt ngày đó vẫn không phai mờ trong tâm trí của những lính trực tiếp chiến đấu, trong đó có Cựu chiến binh Nguyễn Trần Kiêm.

Nhân vật LSQS

Anh hùng Trần Ngọc Chung

Anh hùng, liệt sĩ Trần Ngọc Chung sinh năm 1930, quê ở xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nhập ngũ tháng 10/1950, hy sinh tháng 3/1979 khi thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn...

s