Chuyện của “Bác Hùng Thủy Lôi”


13-05-2014
Trong nhiều năm qua, công tác bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên của Bảo tàng Hải quân luôn được các cấp lãnh đạo quan tâm. Một trong những hoạt động đạt được hiệu quả thiết thực đó là mời các đồng chí cựu chiến binh Hải quân đã từng tham gia hai cuộc kháng chiến đến trực tiếp nói chuyện truyền thống; đặc biệt là những đồng chí đã hiến tặng nhiều hiện vật quý cho Bảo tàng. Trong những lần học tập ấy, chúng tôi được trực tiếp nghe các Bác hướng dẫn về tính năng, cấu tạo cũng như lịch sử của hiện vật, kể về những kỷ niệm hào hùng của một thời chinh chiến.
Có nhiều câu chuyện đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng, cảm phục về lòng dũng cảm và sự sáng tạo của các chiến sĩ Hải quân. Một trong những câu chuyện đó là “Tháo gỡ thủy lôi Mỹ” của người cựu binh mà chúng tôi thường gọi ông với cái tên trìu mến :Bác Hùng thủy lôi!

 

Hôm đó, theo lịch hẹn Bảo tàng chúng tôi đã cử người đưa xe đến tận nhà để đón Bác, nhưng người lính già đã ngoài 80 tuổi đã cười với giọng chắc nịch: Các cháu chu đáo quá! Bác còn khỏe, các cháu cứ để Bác tự túc, ngày xưa chiến tranh gian khổ đường đầy bom đạn bác còn vượt qua được cơ mà! Bác là Trương Thế Hùng – nguyên Đội trưởng Đội 8 Công binh Hải quân, người lính công binh Hải quân Việt Nam đầu tiên tháo gỡ thành công những quả thủy lôi Mỹ.

...Đó là những ngày tháng ác liệt, gian khổ, khó khăn trong cuộc chiến chống phong tỏa thủy lôi Mỹ trên vùng sông, biển miền Bắc Việt Nam.

 
 Bộ dụng cụ sửa chữa xe đạp của đ/c Hùng mang theo dùng tháo gỡ 2 quả thủy lôi MK 52 và MK 50 ở Nam Đàn - quân khu 4 ngày 16/03/1967

Ông kể với giọng hào sảng và ánh mắt sáng lên tự hào!

Đêm 27 rạng 28/2/1967, máy bay  Mỹ thả thuỷ lôi xuống khu vực bốn cửa sông Quân khu 4: Sông Mã (Thanh Hoá), Cửa hội (Nghệ An), sông Gianh, Nhật Lệ (Quảng Bình) nhằm làm tê liệt đường vận chuyển trên sông, biển của ta. Ngày 1/3/1967, Bộ Tư lệnh cử chúng tôi vào Khu 4 làm nhiệm vụ nghiên cứu hiện trường - những nơi địch thả thủy lôi, đồng thời làm tiền trạm để chuẩn bị đưa lực lượng của đội 8 Công binh HQ vào.

 

Ngày 3/3/1967, chúng tôi lên đường vào Quân khu 4 theo chỉ đạo của Bộ Tư lệnh. Đến Nghệ An chúng tôi được biết Công binh Quảng Bình đã vớt được hai quả thuỷ lôi hình dáng khác nhau ở gần khu vực bến phà Gianh. Chúng tôi đề nghị Quân khu 4 giữ nguyên hiện vật. Ngày hôm sau chúng tôi tức tốc vào Quảng Bình, qua Đèo Ngang thì gặp xe tải của tỉnh đội Quảng Bình chở 2 quả thuỷ lôi ra Nghệ An vì khu vực phà Sông Gianh đang là trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ nên khó đảm bảo an toàn nguyên vẹn. Thú thực sau này nghĩ lại mới thấy việc làm đó thật đáng sợ bởi thuỷ lôi Mỹ rất nguy hiểm, nó định thời gian từ 1giờ đến 180 ngày, trong thời điểm đó nó có thể nổ bất cứ lúc nào. Đó là nguyên lý định lần nổ tức là đúng giờ vặn ở đồng hồ thuỷ lôi sẽ nổ, hết thời điểm lại tự huỷ nên không biết nó tự nổ hoặc tự huỷ lúc nào mà tránh. Hơn nữa từ độ cảm lớn nhất (tàu to) đến độ cảm nhỏ nhất (một cục thép nhỏ) nó cũng nổ. Chúng tôi yêu cầu chở thuỷ lôi ra Nam Đàn- Nghệ An (nơi Bộ Tư Lệnh Quân khu IV sơ tán), đặt cách xa nhà dân, để hai quả cách xa nhau phòng nếu thuỷ lôi nổ cũng không kích nổ quả khác. Sau đó tôi báo cáo tình hình với chỉ huy Bộ Tư lệnh và nhận được chỉ thị:

- Bằng mọi cách phải tháo gỡ thuỷ lôi ngay tại chỗ, tháo gỡ hoàn chỉnh và giữ nguyên vẹn để còn nghiên cứu nắm được tính năng và nguyên lý gây nổ của thủy lôi địch.

 

Ngừng một lát, đôi mắt đăm chiêu như lục tìm quá khứ, ông kể tiếp:

 

- Mãi mãi còn in đậm trong tôi kỷ niệm về ngày hôm đó, ngày 16/3/1967, nhìn hai quả thuỷ lôi còn bám đầy bùn đất, tôi cùng đồng chí Đào Kỳ và đồng chí Trần Thanh Hoài hội ý kỹ thuật. Tất cả đều chung một nhận định: Máy bảo hiểm nước ép đang ở trạng thái an toàn. Thuỷ lôi đã vận chuyển bằng ôtô qua một quãng đường dài mà không bị kích nổ; sơ bộ kết luận là có thể tháo được.

 - Quả thuỷ lôi mang nhãn hiệu MK-52 MOD.O là loại thủy lôi từ trường và loại thuỷ lôi gây nổ bằng âm thanh mang nhãn hiệu MK-50 MOD.O, giống như cái thùng phi bên trong chứa hàng trăm kg thuốc nổ. Chúng tôi quyết định tháo quả MK-52 trước. Tôi cho chụp ảnh thuỷ lôi đề phòng nếu thuỷ nổ còn có hình ảnh lưu lại, phân công đồng chí Kỳ, đồng chí Hoài nấp sau mô đất cách khoảng 100m. Chúng tôi thống nhất đánh số thứ tự 8 con ốc ở ngòi nổ và qui ước khi tháo phải hô to cho hai người kia biết thứ tự từng ốc đang tháo.

 

- Sao lại phải làm như vậy?  Một nhân viên của Bảo tàng hỏi?

Ông trầm ngâm:    

 

- Có nhiều loại thuỷ lôi địch lắp thêm bộ phận chống tháo, khi vặn ốc ra là nó nổ hoặc hơi độc thoát ra làm người tháo chết ngay. Làm như vậy nếu thuỷ lôi nổ còn biết nó nổ ở ốc thứ mấy. Đây là kinh nghiệm của các chuyên gia Liên Xô sang ta giảng dạy và truyền đạt.

Ông giới thiệu cho chúng tôi những mỏ lết, kìm, tô-vít và những con ốc tháo ở quả thuỷ lôi mà ông hiến tặng đang trưng bày tại Bảo tàng và kể tiếp:

 

-Thực chất đây là bộ đồ mang theo để sửa xe đạp chứ lúc đó làm gì có đồ chuyên dụng nào. Tôi còn nhớ như in cảm  giác khi đưa mỏ lết vào tháo con ốc đầu tiên của ngòi nổ, căng thẳng đến tột độ; những con ốc còn dính đầy bùn đất, dụng cụ chỉ là chiếc mỏ lết bình thường, vặn nó cực kỳ khó khăn, tôi phải nhích dần, nhích dần từng tý một. Ốc số 1, tôi hô to; ốc số 2... thời gian lúc đó sao mà thật dài, mồ hôi túa ra ướt đẫm... và khi con ốc số 8- con ốc cuối cùng ở ngòi nổ được tháo xong và cả hệ thống ngòi nổ được tháo rời khỏi khối thuốc nổ, tôi thở phào và hét lên sung sướng. Kỳ và Hoài chạy lại, chúng tôi ôm chầm lấy nhau mà nước mắt cứ trào rơi. Chúng tôi cùng nhau tháo bộ máy gây nổ phía sau thủy lôi... Việc này cũng vất vả không kém. Phải lần lượt tháo hết 24 con ốc phía ngoài,  4 con ốc kẹp chặt phía trong, ba anh em phải gồng mình lùa bộ máy gây nổ nặng vài chục cân theo hai đường rãnh ở thành thuỷ lôi đưa ra ngoài. Quả thuỷ lôi MK-50 MOD.O được tiến hành tương tự, hơn một giờ sau quả thuỷ lôi này được tháo gỡ an toàn trước nỗi mừng vui khôn xiết của đồng đội. Việc tháo gỡ thành công hai quả thuỷ lôi này có ý nghĩa rất quan trọng. Đó là cơ sở để nghiên cứu cấu tạo, tính năng, nguyên lý hoạt động của thủy lôi địch, là tiền đề để Hải Quân ta nghiên cứu chế tạo những thiết bị, phương tiện rà phá hiệu quả, phá nổ hàng ngàn quả thuỷ lôi Mỹ, làm thất bại âm mưu phong toả sông biển của kẻ thù.

-Bác ơi! Trong giờ phút đối mặt với tử thần bác suy nghĩ gì?  

 

Im lặng vài giây, ông bộc bạch:

- Thực sự lúc đó tôi chỉ nghĩ làm sao phải tháo bằng được quả thuỷ lôi này, để hoàn thành nhiệm vụ, chấp nhận rủi ro, sẵn sàng hy sinh. Chuyên gia LiênXô khi sang huấn luyện đã nói: Trong chiến tranh Thế giới thứ II rất nhiều chiến sỹ công binh Liên Xô đã anh dũng hy sinh để khám phá các bí mật của thuỷ lôi Đức. Công việc của người lính công binh không có thử nghiệm, bởi thử nghiệm đồng nghĩa với hy sinh tính mạng của mình. Rất nhiều những đồng chí, đồng đội của tôi đã mãi mãi nằm lại...

 

Tôi hiểu tình cảm của người lính già, ông đang xúc động, tiếc thương những đồng chí, đồng đội đã ngã xuống trong khi làm nhiệm vụ.

- Trước đây Bác đã biết gì về thủy lôi Mỹ? Tôi thắc mắc?

 

- Hoàn toàn không. Tôi nhập ngũ năm 1948 khi 18 tuổi. Năm 1955 được cử sang học lớp huấn luyện về thuỷ lôi tại đảo Hải Nam Trung quốc, sau là trợ giảng và phiên dịch cho lớp huấn luyện này. Năm 1966 tôi tham gia lớp học do chuyên gia Liên xô hướng dẫn về kỹ thuật rà quét, nguyên lý, cấu tạo, hoạt động, tính năng kỹ thuật, cách phân biệt các loại thuỷ lôi, một số kiểu loại bẫy chống tháo có thể gặp để cảnh giác. Chủ yếu là các loại thuỷ lôi do Liên xô, Đức, Nhật sản xuất. Còn đối với loại thủy lôi do Mỹ sản xuất thì đây là lần đầu tiên tôi tiếp cận.

 Bước đi chậm rãi giữa phần trưng bày về Chống phong tỏa thủy lôi – bom từ trường của Mỹ trên chiến trường sông biển miền Bắc, ông giới thiệu, hướng dẫn: đây cờlê, mỏ lết, những dụng cụ tháo gỡ năm  xưa, đây hai quả thủy lôi chúng tôi đã tháo gỡ thành công...và còn nhiều những hiện vật quý khác. Tuy chúng đã cũ kỹ, han gỉ theo thời gian, nhưng dường như nó vẫn còn lấp lánh ánh hào quang của chiến thắng, ánh hào quang của lòng dũng cảm,  bản lĩnh, trí tuệ của người lính công binh Hải quân.

Đoàn học tập của chúng tôi hôm đó bao gồm tất cả cán bộ, nhân viên của Bảo tàng và có cả khách đang tham quan ai cũng chăm chú nghe, ghi chép như nuốt từng lời, ai cũng thầm cảm phục. Chúng tôi, những người làm công tác Bảo tàng hơn ai hết hiểu rõ và cảm nhận được hiệu quả của buổi học tập này. Bởi học lịch sử từ những người làm nên lịch sử là cách học hiệu quả nhất!

Thanh Hà

 


Nguồn: Bảo tàng Hải quân
13-05-2014
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Tàu 235 - bản anh hùng ca bất tử trên vùng biển Hòn Hèo

Hòn Hèo là tên chung chỉ vùng biển và dãy núi chạy qua hai xã Ninh Phước, Ninh Vân thuộc tỉnh Khánh Hoà. Hòn Hèo cách Nha Trang khoảng hơn 10km đường biển. Cách đây hơn 50 năm, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và đồng đội đã anh dũng hy sinh cùng con Tàu 235 anh hùng.

Nhân vật LSQS

Trung tướng, Anh hùng LLVTND Hà Minh Thám

Trung tướng Hà Minh Thám sinh năm 1955, quê ở xã Vĩnh Hòa (huyện Ninh Thanh, tỉnh Hải Hưng), nhập ngũ ngày 13/12/1972. Khi được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, đồng chí có quân hàm...

s