Ánh mắt hơn nghìn viên đạn


18-07-2018
Hơn 40 năm đã qua nhưng mỗi khi tháng 7 đến, trong ký ức tôi, hình ảnh của Lân lại hiện ra. Đầu năm 1974 ấy, chúng tôi gặp và biết nhau ngày cùng về Trường hạ sĩ quan Trung đoàn Phú Xuân (Thừa Thiên-Huế).

Trường đóng quân trong một khu rừng già cạnh Khe Rùa nên cánh lính chúng tôi thường gọi vui là “Trường hạ sĩ quan Khe Rùa”!. Tôi và Lân cùng một tiểu đội, hai đứa lại nằm cạnh giường nhau nên mỗi buổi tối trước khi đi ngủ thường tâm sự đủ thứ chuyện. Ở chiến trường, những đêm như thế chuyện gì rồi cuối cùng cũng quay về ký ức tuổi thơ với quê hương, những kỷ niệm mơ hồ với những người bạn gái tuổi học trò. Tôi vẫn nhớ Lân rất yêu văn học, đặc biệt là yêu thơ. Ngày ấy, ở chiến trường, thỉnh thoảng chúng tôi mới có được một cuốn Tạp chí Văn nghệ quân đội chuyền tay nhau đọc không sót một chữ nào. Tôi lại thích làm thơ và được giao phụ trách tờ báo tường của lớp. Những bài thơ tôi làm bao giờ cũng đọc cho Lân nghe trước khi chép dán lên báo tường. Thơ tôi làm đề tài chủ yếu về quê hương, về chuyện chiến trường, người lính… Hằng tuần, vào tối thứ sáu sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, Lân thường chọn thơ của tôi đọc, ngâm trước khi anh Bình lên điểm báo và bình thơ trên báo tường. Tôi nhớ như in có một lần ngâm bài thơ “Bãi tập chiều nay” của tôi, đến khổ: Bãi tập chiều nay ngả nắng vàng/ Mấy con bướm trắng lượn đồi hoang/ Ai khéo tay xe từng sợi nắng/ Thương tà áo trắng vắng đò ngang… anh đã bật khóc. Quê hương Lân ở Quảng Ninh, anh thú thật lúc ngâm đến khổ thơ ấy tự nhiên trong lòng trào lên nỗi nhớ tuổi thơ trên những đồi sim tím ngắt về chiều, nhớ biển hoàng hôn vàng rực, nhớ những chuyến phà Bãi Cháy đìu hiu…


Minh họa: PHÙNG MINH

Một lần, tôi chuyển điện khẩn lên cao điểm Chúc Mao (một trận địa phòng ngự quan trọng trong cụm tuyến phòng ngự Sơn Na, Hòn Vượn, Động Tranh hướng tây Thừa Thiên-Huế) cho Đại đội 2 vừa lên thay quân thì gặp Lân. Hai đứa lâu ngày mới gặp nên kéo nhau vào hầm trú ẩn ngồi hỏi đủ thứ chuyện. Đúng lúc ấy, máy bay địch ập đến giội bom xuống trận địa. Lân nói với tôi địch chuẩn bị tấn công lên cao điểm và đẩy tôi vào một căn hầm chữ A kiên cố hơn. Lân còn dặn tôi không được ra khỏi hầm ngay khi bom ngớt, vì sau bom là pháo. Bao giờ cũng vậy, đó như là một quy luật của địch trước khi đẩy lính bộ binh tấn công chiếm cao điểm. Pháo địch ngừng bắn, tôi xách khẩu súng AK báng gấp của mình lao ra, Lân lại đẩy tôi vào. Tôi nói như quát: “Cậu quên mất tớ cũng là lính chiến đấu à?”. Lân ôm súng quay về vị trí chỉ huy tiểu đội, anh như con sóc lặn ngụp trong khói pháo và bụi cát đến từng vị trí chiến đấu để chỉ huy. Có những lúc pháo địch bắn dồn dập xuống, tôi đã tưởng Lân bị vùi dưới đất nhưng chỉ ít giây sau anh đã đội đất đứng lên, lại lao đi, lại xả súng xuống sườn đồi đẩy lùi những tên địch lì lợm bước qua xác đồng đội của chúng.Khóa học của chúng tôi kết thúc sau 8 tháng, mỗi người lại trở về đơn vị chiến đấu của mình. Lân về Đại đội 2 làm tiểu đội trưởng, còn tôi trở lại công việc của một chiến sĩ liên lạc tiểu đoàn, có khi cả tháng không gặp nhau được một lần. Tôi chỉ biết tin Lân qua những cán bộ đại đội lên tiểu đoàn họp, giao ban… Mà trong chiến đấu rất ít khi hội họp. Thường thì chỉ huy qua vô tuyến, hữu tuyến hoặc cán bộ cấp trên xuống trận địa, xuống điểm chốt trực tiếp chỉ huy chiến đấu.

Từ ngày rời trường hạ sĩ quan, hôm ấy là lần đầu tiên tôi được chiến đấu bên cạnh Lân. Và thú thật, tôi không nhận ra một Lân trên trận địa chiến đấu và một Lân ở trường. Nhiều tình huống trước sự tấn công ồ ạt của bộ binh địch lại được sự yểm trợ hỏa lực tối đa, tôi có cảm giác như tuyến phòng ngự phía trước của tiểu đội, trung đội Lân không gượng lại được. Vậy mà giữa hai làn pháo, giữa tích tắc chùn bước của lính bộ binh địch, Lân lại đứng bật dậy, tay bóp cò, tay giật ném lựu đạn, miệng ra lệnh chỉ huy không ngớt. Bản lĩnh ấy, dũng khí ấy có lẽ đã được tôi luyện qua nhiều trận chiến đấu.

Đêm ấy, tôi trở về tiểu đoàn bộ, không kịp quay lại để chia tay Lân. Anh đang chỉ huy tiểu đội sửa sang lại công sự và khắc phục hậu quả sau một ngày chiến đấu ác liệt…

Bẵng đi một thời gian, tôi đi cùng cán bộ tiểu đoàn chuẩn bị địa hình cho trận đánh mới nên không gặp Lân. Một đơn vị khác đã chốt giữ cao điểm Chúc Mao thay thế cho đơn vị của Lân rút về củng cố lực lượng. Hôm trở về tiểu đoàn bộ, tôi xuống vị trí trú quân của Đại đội 2 thì gặp Lĩnh. Lĩnh vốn là lính trung đội trinh sát tiểu đoàn, được điều về Đại đội 2 làm tiểu đội trưởng vào những ngày cuối cùng đại đội chốt giữ trên điểm cao Chúc Mao. Lĩnh quê ở vùng biển Hậu Lộc, Thanh Hóa, tính hay nói và lại nói to nên có biệt danh là “Lĩnh toác”. Gặp nhau, tôi chưa kịp hỏi, “Lĩnh toác” đã liến thoắng: “Lân hy sinh rồi cậu ạ, nó chết mà như sống…”. Nghe vậy, tôi sững người lại, không tin vào tai mình nữa. Dường như nhận ra điều gì đấy, giọng Lĩnh nhỏ lại và trầm buồn hơn, khác với giọng toang toác ban đầu. Lĩnh kể lại rằng, buổi sáng hôm ấy, anh vừa được tiểu đoàn điều xuống làm tiểu đội trưởng cùng trung đội với Lân. Khoảng hơn 5 giờ chiều thì địch mở đợt tấn công thứ hai lên cao điểm. Suốt đợt tấn công thứ nhất vào lúc mờ sáng, chúng bị ta đẩy lùi nhưng quân ta cũng thiệt hại nặng nề. Cả trung đội gom lại chỉ còn quân số hơn một tiểu đội. Cả đại đội phải dàn quân ra chốt giữ các vị trí trọng yếu. Quân chưa kịp bổ sung, người hy sinh vẫn chưa chuyển hết về phía sau. Dường như phán đoán được ý đồ tiếp theo của địch, Lân đã tập hợp số chiến sĩ còn lại động viên anh em quyết tâm giữ trận địa bằng mọi giá. Người còn ít nên tuyến phòng ngự phải rộng ra, mỗi người phải sử dụng nhiều loại vũ khí cùng một lúc để tập trung hỏa lực. Tại vị trí phòng ngự của Lân chất đầy vũ khí đã nạp đạn sẵn. Nhiều vũ khí của các chiến sĩ đã hy sinh dồn lại chia cho từng người…

Trận đánh cuối cùng trong ngày nên địch tập trung hỏa lực dồn dập như muốn băm nát cao điểm. Các chiến sĩ của ta với hỏa lực tập trung trong tay hết súng này đến súng khác đã chặn đứng địch, kiên cường giữ chốt. Khi Lĩnh phát hiện bọn địch ra hiệu rút quân cũng là lúc vị trí chốt giữ của Lân không còn nghe tiếng súng nổ. Lĩnh chạy dọc theo chiến hào đến vị trí của Lân mới nhận ra Lân đã hy sinh. Lân hy sinh trong tư thế đang nhoài người lên bờ công sự, mắt mở to nhìn thẳng về hướng địch. Anh ôm chặt khẩu trung liên RPK, ngón tay trỏ vẫn đặt ở cò súng…

Kể xong câu chuyện, Lĩnh thốt ra một câu: “Đến bây giờ mình vẫn không quên tư thế tiến công ấy, đôi mắt ấy. Lân hy sinh rồi mà ánh mắt vẫn như có nghìn viên đạn!”…

Hơn 40 mươi năm qua, không biết bao nhiêu lần tôi đặt chân đến Quảng Ninh, không biết bao nhiêu lần tôi đã kể câu chuyện về sự hy sinh ấy với đồng đội, bạn bè, cả với người mới quen biết. Mỗi lần giở quyển nhật ký chiến trường xưa, tôi vẫn ngậm ngùi bắt gặp dòng chữ nắn nót Lân ghi cho tôi ngày còn ở “Trường hạ sĩ quan Khe Rùa”: Nguyễn Hồng Lân, Mỏ than cọc 6, Cẩm Phả, Quảng Ninh.

HỒ ANH THẮNG


Nguồn: QĐND
18-07-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Tàu 235 - bản anh hùng ca bất tử trên vùng biển Hòn Hèo

Hòn Hèo là tên chung chỉ vùng biển và dãy núi chạy qua hai xã Ninh Phước, Ninh Vân thuộc tỉnh Khánh Hoà. Hòn Hèo cách Nha Trang khoảng hơn 10km đường biển. Cách đây hơn 50 năm, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và đồng đội đã anh dũng hy sinh cùng con Tàu 235 anh hùng.

Nhân vật LSQS

Trung tướng, Anh hùng LLVTND Hà Minh Thám

Trung tướng Hà Minh Thám sinh năm 1955, quê ở xã Vĩnh Hòa (huyện Ninh Thanh, tỉnh Hải Hưng), nhập ngũ ngày 13/12/1972. Khi được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, đồng chí có quân hàm...

s