Bộ sưu tập hiện vật vũ khí thô sơ, tự tạo của Việt Nam trong chiến tranh giải phóng (1945-1975)


26-09-2013
Sưu tập gồm những hiện vật vũ khí thô sơ tự tạo nóng, lạnh, đánh gần, đánh xa tiêu biểu của ba miền Bắc, Trung Nam. Đặc biệt trong bộ sưu tập có trên 200 hiện vật do chính các nhân chứng lịch sử của Câu lạc bộ Quân giới Nam Bộ sản xuất.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt đang tiến hành xây dựng bộ sưu tập hiện vật vũ khí thô sơ, tự tạo của Việt trong chiến tranh giải phóng (1945 - 1975). Chúng ta biết rằng: Vũ khí thô sơ, tự tạo là loại vũ khí có cấu tạo và nguyên lý hoạt động đơn giản, dễ chế tạo ở địa phương bằng những phương pháp và phương tiện thủ công, dùng vật liệu tại chỗ, đạn dược hỏng hoặc cải tiến các loại đạn, bom thu được của đối phương. Vũ khí thô sơ tự tạo bao gồm vũ khí đánh xa, đánh gần, nóng, lạnh… đánh trên mọi địa hình đồng bằng, trung du, miền núi, ven sông, ven biển. Trong chiến tranh nhân dân ở Việt , vũ khí thô sơ phát huy hiệu quả sát thương cao. Từ ngàn xưa, tổ tiên ta đã biết sử dụng công cụ bằng đá, cung nỏ làm bằng bẫy tre, gỗ để săn bắt, hái lượm và chống lại thú dữ bảo đảm cho sự sinh tồn và phát triển dân tộc. Thời đại đồ đồng đã biết làm ra các loại rìu chiến, giáo, mác, mũi tên đề chống lại kẻ thù xâm lược. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm. Đây cũng là quá trình hình thành và phát triển các loại vũ khí thô sơ tự tạo của Việt .

Dân tộc ta tiến hành bảo vệ Tổ quốc luôn trong hoàn cảnh nước nhỏ, nghèo mà đối chọi với kẻ thù luôn mạnh hơn ta gấp nhiều lần về tiềm lực kinh tế, quân sự. Để đánh bại được kẻ thù, giữ yên bờ cõi, dân tộc ta luôn quán triệt tư tưởng đoàn kết toàn dân “Lấy nhỏ thắng lớn” với phương châm “Lấy ít địch nhiều”, tự cung tự cấp, sản xuất ra các loại vũ khí để chống giặc ngoại xâm bảo vệ bản làng, quê hương. Để chống lại phong kiến phương Bắc, ông cha ta đã làm ra nỏ, cung tên, giáo, mác, qua, kiếm, long đao… và lấy gỗ đẽo nhọn thành cọc đóng xuống lòng sông để đánh đắm tàu giặc làm nên những chiến thắng thần kỳ, đời đời lưu danh trong sử sách như chiến thắng của Ngô Quyền đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ba lần đánh thắng quân Nguyên, Lê Lợi đánh thắng quân Minh, Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh...

Kế thừa, phát huy truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông, ngay từ khi mới ra đời, trong Luận cương chính trị đã chỉ ra đường lối của cách mạng Việt Nam là “Làm cách mạng dân quyền” xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng  “Lập quân đội công nông” “lập đội tự vệ công nông để đấu tranh với kẻ thù”. Trong quá trình kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, Đảng ta đề ra đường lối quân sự với quan điểm cơ bản là chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Sức mạnh của chiến tranh nhân dân là ưu thế tuyệt đối để quân và dân ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Khi thực hiện vũ trang toàn dân, phát động toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang là nòng cốt, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề cơ sở vật chất và kỹ thuật, vũ khí và trang bị. Bởi con người và vũ khí là những yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu, trong đó con người là yếu tố cơ bản, quyết định mọi thắng lợi. Năm 1946, khi tình thế đất nước ngàn cân treo trên sợi tóc, thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm. Không có gươm thì dùng cuốc thuổng gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước”. Để có vũ khí đánh giặc, quân và dân ta đã sản xuất ra các loại vũ khí thô sơ, tự tạo từ nhiều nguồn: có loại rất thô sơ, có loại được cải tiến từ phương tiện, dụng cụ sinh hoạt, sản xuất, có loại lấy của địch cải tiến để đánh địch... Bằng chất liệu có sẵn ở địa phương tre, gỗ, đá… thu nhặt thanh ray của đường sắt, mẩu sắt, thép, cướp vũ khí của địch, chế tạo làm thành hầm chông, cạm bẫy, mã tấu, dao rựa, cung nỏ, ong vò vẽ, lá độc… để đánh địch.

Không chỉ có vũ khí đánh xa, đánh gần, quân và dân ta còn chế tạo ra nhiều loại vũ khí nóng thô sơ nhưng có uy lực lớn hơn như các loại bom, mìn, ống phóng… đủ sức diệt các loại phương tiện chiến tranh hiện đại của địch như xe tăng, xe bọc thép, phá sập lô cốt, tháp canh. Tính đến năm 1954, ngoài các loại vũ khí thô sơ, vũ khí do quân và dân ta chế tạo như các loại bom, mìn, súng...thực dân Pháp xác nhận gồm 69 kiểu. Theo tài liệu của Cục Dân quân Tự vệ, tính đến đầu năm 1954, ta đã sản xuất được 50.000 sản phẩm nguyên chiếc và chi tiết các loại súng đạn thô sơ tự tạo. Trong kháng chiến chống Mỹ nhiều địa phương trên địa bàn khu 5, miền Đông, miền Tây Nam Bộ đã sản xuất ra nhiều loại vũ khí thô sơ tự tạo nổi tiếng như chông đu, chông rải, chông phóng, giàn thun, các loại mìn bố trí trên bờ, dưới nước…Các loại vũ khí thô sơ, tự tạo được sản xuất phù hợp với mọi người Việt Nam, mọi lứa tuổi, ai cũng có thể sử dụng, ai cũng có thể sản xuất dù ở thành thị, nông thôn hay miền rừng núi, sông nước và được sử dụng đánh địch ở bất cứ nơi đâu, với mọi địa hình, thời tiết. Với phương châm “Mỗi người dân ta một chiến sỹ, mỗi căn nhà, đoạn đường, khúc sông, quả đồi, làng bản, khu phố... là trận địa giết giặc”, quân và dân ta đã tạo nên sức mạnh to lớn, tạo ra thế tiến công rộng khắp, liên tục của chiến tranh nhân dân, làm cho kẻ thù nhiều phen khiếp vía, kinh hoàng, góp phần quan trọng đánh bại mọi mưu đồ của địch, góp phần giành thắng lợi to lớn. Vũ khí thô sơ không chỉ là sản phẩm của ý chí tự cường, trí thông minh, óc sáng tạo của quân và dân ta mà còn phản ánh một cách sâu sắc đường lối quân sự, nghệ thuật quân sự Việt .

Nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân với vũ khí thô sơ, tự tạo đã biết kết hợp trí thông minh và lòng dũng cảm, dùng mưu mẹo, lừa địch, luôn thay đổi cách đánh đã đem lại hiệu quả cao, góp phần to lớn vào việc tiêu hao nhiều sinh lực địch phá huỷ, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Với cách đánh mưu trí, sáng tạo lối đánh tập trung kết hợp vật cản, công sự và uy lực của vũ khí thô sơ tự tạo đã ngăn chặn hoặc đánh bại các thủ đoạn bao vây, lấn chiếm, tiến công, càn quét của địch, làm cho địch phân tán lực lượng, luôn căng thẳng về tinh thần, do dự, lo sợ, giảm ý chí chiến đấu. Tờ thời báo Mỹ số ra ngày 28/11/1966, có đoạn viết: “Bất luận ở đâu, qua mỗi cuộc tuần tra, người lính nào cũng phải nghĩ rằng: Bước thêm bước nữa có thể là bước đi cuối cùng của đời mình”. Bằng các loại vũ khí thô sơ, tự tạo của quân và dân ta góp phần làm phong phú thêm cách đánh và nghệ thuật tác chiến của chiến tranh nhân dân. Chỉ tính riêng năm 1966, Mỹ thừa nhận 20% số lính Mỹ thương vong là do hầm chông và mìn của Việt cộng và sau đó con số thương vong của lính Mỹ càng tăng. Năm 1967, 50% số lính Mỹ thương vong của sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1 Mỹ và 25% tổng số thương vong của toàn lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ tại Việt Nam là do hầm chông cạm bẫy.

Ngày nay, trong điều kiện mới, nếu có chiến tranh chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc nhưng là cuộc chiến tranh nhân dân hiện đại góp phần chống lại cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao. Trên quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử, cuộc chiến tranh nhân dân hiện đại của nhân dân ta vẫn phải dựa trên nền tảng tư tưởng xuyên suốt của chiến tranh nhân dân và truyền thống đánh giặc của dân tộc Việt .

Đó là tư tưởng cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí. Bởi vậy, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, huy động toàn dân tham gia chế tạo vũ khí thô sơ tự tạo, sẵn sàng chiến đấu chống lại chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh xâm lược là vấn đề có ý nghĩa sống còn của Việt .

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam sưu tầm, xây dựng sưu tập vũ khí tự tạo của Việt Nam trong chiến tranh giải phóng (1945 - 1975) nhằm góp phần trao truyền kinh nghiệm, giáo dục truyền thống đánh giặc giữ nước cho các thế hệ mai sau, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, bảo vệ di sản văn hoá, giới thiệu nét đặc sắc của văn hoá quân sự Việt Nam với bạn bè quốc tế là một việc làm cấp bách, cần thiết.

Bộ sưu tập này dự kiến hoàn thành vào năm 2009 với tổng số hàng nghìn hiện vật.

Đây là một sưu tập hiện vật độc đáo phản ánh đậm nét cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân toàn diện của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phản ánh nét đặc sắc của văn hoá quân sự Việt . Sưu tập gồm những hiện vật vũ khí thô sơ tự tạo nóng, lạnh, đánh gần, đánh xa tiêu biểu của ba miền Bắc, Trung . Đặc biệt trong bộ sưu tập có trên 200 hiện vật do chính các nhân chứng lịch sử của Câu lạc bộ Quân giới Nam Bộ sản xuất.

Các loại vũ khí thô sơ tự tạo quân và dân ta sử dụng đánh địch trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã có những bước phát triển kỳ diệu. Đây không còn là những vũ khí phòng ngự cố định thụ động ở chiến tuyến tiền duyên nữa, mà đã biến những vũ khí tiến công ở bất cứ lúc nào, nơi nào, để trừng trị quân xâm lược. Trong cuộc chiến tranh Việt , “mìn, cạm bẫy, hầm chông” đã vượt xa khuôn khổ vũ khí, phương tiện trong chiến đấu, chiến thuật, mà đã trở thành điều mà các nhà nghiên cứu quân sự nước ngoài gọi là một “phương thức chiến tranh”.

Các nhà quân sự của Mỹ nghiên cứu tổng kết: Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, mìn, cạm bẫy, hầm chông đã được đối phương của Mỹ sử dụng rất rộng rãi và ác liệt gấp nhiều lần so với trong cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 và đã gây ra đến trên 50% tổng số thương vong của Mỹ trong cuộc chiến tranh này. Đối phương của chúng ta, quân đội Việt cộng, chắc rất lấy làm thích thú khi biết được rằng hơn một nửa trong tổng số mìn họ đặt và cạm bẫy họ gài, hầm chông họ đào, đã phát huy tác dụng, gây thương vong cho binh sĩ Mỹ. Họ đã đặt mìn, cạm bẫy, hầm chông để quấy rối các đơn vị Mỹ ngay ở những nơi, những lúc mà tại đó, khi đó, họ không hề có một đơn vị vũ trang nào. Quân đội Mỹ đã mất ăn mất ngủ vì thế, và đấy cũng là cách phía Việt cộng mở rộng các vùng kiểm soát của họ. Quan trọng hơn thế nữa, họ đã làm cho binh sĩ Mỹ mất tinh thần. Bất cứ ở lúc nào, người lính Mỹ cũng luôn luôn lo nơm nớp giẫm phải một quả mìn, một cạm bẫy, rơi tọt xuống một hầm chông được nghi trang kín đáo, tài tình nào đó. Điều đó đòi hỏi binh sĩ Mỹ lúc nào cũng phải cảnh giác và làm tinh thần họ luôn luôn căng thẳng. Nỗi lo sợ đó làm hạn chế rất lớn sự tự do hành động của các đơn vị Mỹ. Về phía Mỹ, cũng đã có lần bộ tư lệnh Mỹ cho rải những bãi mìn rộng lớn trên cái được gọi là “chiến tuyến Mắc Na-ma-ra” ở khu phi quân sự. Nhưng sau đó, phía Mỹ đành phải từ bỏ việc làm này vì các binh sĩ Việt cộng đã nhân đó gỡ đi các quả mìn Mỹ và lại sử dụng chính các quả mìn Mỹ đó để đánh lại quân Mỹ”.

Theo các nhà quân sự Mỹ “phương thức chiến tranh” này đã là một trong những yếu tố quan trọng làm đảo lộn nhiều tính toán, dự kiến của giới lý luận và chỉ huy quân sự Mỹ về chiến lược, chiến thuật, tổ chức biên chế, vũ khí trang bị chiến đấu trong học thuyết “chống chiến tranh nổi dậy” (học thuyết chiến tranh xâm lược chống các phong trào giải phóng dân tộc). Thử lấy một trong trăm nghìn ví dụ: “Sư đoàn ba tác dụng”, tổ chức “tân kỳ bậc nhất” của lục quân Mỹ với chiến thuật “đổ bộ thẳng đứng bằng trực thăng”, đã chẳng phát huy được mấy tác dụng trong một khu vực núi rừng hoặc cả đồng bằng đầy dẫy hầm chông, cạm bẫy, mìn, khiến lính Mỹ phải run rẩy đi dò từng bước để rồi bất ngờ bị giáng những đòn tiêu diệt nặng nề. Chính đấy là một trong những nét thần kỳ của “chiến tranh nhân dân” Việt mà giới quân sự đế quốc Mỹ đang ra sức nghiên cứu mà không sao khắc phục nổi. Và đây cũng là một biểu hiện sự bế tắc phá sản của “học thuyết chiến tranh chống nổi dậy” của bọn xâm lược, sen đầm quốc tế Hoa Kỳ.

Xin được giới thiệu một số loại vũ khí thô sơ tự tạo do quân và dân ta sản xuất trong bộ sưu tập quý giá này.

 
Chông cũi   Chông lăn
Mìn đánh xe MC 7
Ngòi mìn lá
 
Lựu đạn lon cá mòi
  Súng ngựa trời Đồng Khởi
Phi tiêu
Súng ngựa trời đánh tây

Nguồn: 
26-09-2013
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
GIỜ MỞ CỬA
Sáng: Từ 08h00 đến 11h30
Chiều: Từ 13h00 đến 16h30
Các ngày:
Thứ Ba, Tư, Năm, Bảy, Chủ nhật
 

 Thời gian và Giá vé
 Quy định tham quan
 Sơ đồ tham quan
 Đường đến Bảo tàng
 Tham quan Bảo tàng 3D

Bộ sưu tập hiện vật vũ khí thô sơ, tự tạo của Việt Nam trong chiến tranh giải phóng (1945-1975)


26-09-2013
Sưu tập gồm những hiện vật vũ khí thô sơ tự tạo nóng, lạnh, đánh gần, đánh xa tiêu biểu của ba miền Bắc, Trung Nam. Đặc biệt trong bộ sưu tập có trên 200 hiện vật do chính các nhân chứng lịch sử của Câu lạc bộ Quân giới Nam Bộ sản xuất.


Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt đang tiến hành xây dựng bộ sưu tập hiện vật vũ khí thô sơ, tự tạo của Việt trong chiến tranh giải phóng (1945 - 1975). Chúng ta biết rằng: Vũ khí thô sơ, tự tạo là loại vũ khí có cấu tạo và nguyên lý hoạt động đơn giản, dễ chế tạo ở địa phương bằng những phương pháp và phương tiện thủ công, dùng vật liệu tại chỗ, đạn dược hỏng hoặc cải tiến các loại đạn, bom thu được của đối phương. Vũ khí thô sơ tự tạo bao gồm vũ khí đánh xa, đánh gần, nóng, lạnh… đánh trên mọi địa hình đồng bằng, trung du, miền núi, ven sông, ven biển. Trong chiến tranh nhân dân ở Việt , vũ khí thô sơ phát huy hiệu quả sát thương cao. Từ ngàn xưa, tổ tiên ta đã biết sử dụng công cụ bằng đá, cung nỏ làm bằng bẫy tre, gỗ để săn bắt, hái lượm và chống lại thú dữ bảo đảm cho sự sinh tồn và phát triển dân tộc. Thời đại đồ đồng đã biết làm ra các loại rìu chiến, giáo, mác, mũi tên đề chống lại kẻ thù xâm lược. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm. Đây cũng là quá trình hình thành và phát triển các loại vũ khí thô sơ tự tạo của Việt .

Dân tộc ta tiến hành bảo vệ Tổ quốc luôn trong hoàn cảnh nước nhỏ, nghèo mà đối chọi với kẻ thù luôn mạnh hơn ta gấp nhiều lần về tiềm lực kinh tế, quân sự. Để đánh bại được kẻ thù, giữ yên bờ cõi, dân tộc ta luôn quán triệt tư tưởng đoàn kết toàn dân “Lấy nhỏ thắng lớn” với phương châm “Lấy ít địch nhiều”, tự cung tự cấp, sản xuất ra các loại vũ khí để chống giặc ngoại xâm bảo vệ bản làng, quê hương. Để chống lại phong kiến phương Bắc, ông cha ta đã làm ra nỏ, cung tên, giáo, mác, qua, kiếm, long đao… và lấy gỗ đẽo nhọn thành cọc đóng xuống lòng sông để đánh đắm tàu giặc làm nên những chiến thắng thần kỳ, đời đời lưu danh trong sử sách như chiến thắng của Ngô Quyền đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ba lần đánh thắng quân Nguyên, Lê Lợi đánh thắng quân Minh, Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh...

Kế thừa, phát huy truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông, ngay từ khi mới ra đời, trong Luận cương chính trị đã chỉ ra đường lối của cách mạng Việt Nam là “Làm cách mạng dân quyền” xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng  “Lập quân đội công nông” “lập đội tự vệ công nông để đấu tranh với kẻ thù”. Trong quá trình kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, Đảng ta đề ra đường lối quân sự với quan điểm cơ bản là chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Sức mạnh của chiến tranh nhân dân là ưu thế tuyệt đối để quân và dân ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Khi thực hiện vũ trang toàn dân, phát động toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang là nòng cốt, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề cơ sở vật chất và kỹ thuật, vũ khí và trang bị. Bởi con người và vũ khí là những yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu, trong đó con người là yếu tố cơ bản, quyết định mọi thắng lợi. Năm 1946, khi tình thế đất nước ngàn cân treo trên sợi tóc, thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm. Không có gươm thì dùng cuốc thuổng gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước”. Để có vũ khí đánh giặc, quân và dân ta đã sản xuất ra các loại vũ khí thô sơ, tự tạo từ nhiều nguồn: có loại rất thô sơ, có loại được cải tiến từ phương tiện, dụng cụ sinh hoạt, sản xuất, có loại lấy của địch cải tiến để đánh địch... Bằng chất liệu có sẵn ở địa phương tre, gỗ, đá… thu nhặt thanh ray của đường sắt, mẩu sắt, thép, cướp vũ khí của địch, chế tạo làm thành hầm chông, cạm bẫy, mã tấu, dao rựa, cung nỏ, ong vò vẽ, lá độc… để đánh địch.

Không chỉ có vũ khí đánh xa, đánh gần, quân và dân ta còn chế tạo ra nhiều loại vũ khí nóng thô sơ nhưng có uy lực lớn hơn như các loại bom, mìn, ống phóng… đủ sức diệt các loại phương tiện chiến tranh hiện đại của địch như xe tăng, xe bọc thép, phá sập lô cốt, tháp canh. Tính đến năm 1954, ngoài các loại vũ khí thô sơ, vũ khí do quân và dân ta chế tạo như các loại bom, mìn, súng...thực dân Pháp xác nhận gồm 69 kiểu. Theo tài liệu của Cục Dân quân Tự vệ, tính đến đầu năm 1954, ta đã sản xuất được 50.000 sản phẩm nguyên chiếc và chi tiết các loại súng đạn thô sơ tự tạo. Trong kháng chiến chống Mỹ nhiều địa phương trên địa bàn khu 5, miền Đông, miền Tây Nam Bộ đã sản xuất ra nhiều loại vũ khí thô sơ tự tạo nổi tiếng như chông đu, chông rải, chông phóng, giàn thun, các loại mìn bố trí trên bờ, dưới nước…Các loại vũ khí thô sơ, tự tạo được sản xuất phù hợp với mọi người Việt Nam, mọi lứa tuổi, ai cũng có thể sử dụng, ai cũng có thể sản xuất dù ở thành thị, nông thôn hay miền rừng núi, sông nước và được sử dụng đánh địch ở bất cứ nơi đâu, với mọi địa hình, thời tiết. Với phương châm “Mỗi người dân ta một chiến sỹ, mỗi căn nhà, đoạn đường, khúc sông, quả đồi, làng bản, khu phố... là trận địa giết giặc”, quân và dân ta đã tạo nên sức mạnh to lớn, tạo ra thế tiến công rộng khắp, liên tục của chiến tranh nhân dân, làm cho kẻ thù nhiều phen khiếp vía, kinh hoàng, góp phần quan trọng đánh bại mọi mưu đồ của địch, góp phần giành thắng lợi to lớn. Vũ khí thô sơ không chỉ là sản phẩm của ý chí tự cường, trí thông minh, óc sáng tạo của quân và dân ta mà còn phản ánh một cách sâu sắc đường lối quân sự, nghệ thuật quân sự Việt .

Nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân với vũ khí thô sơ, tự tạo đã biết kết hợp trí thông minh và lòng dũng cảm, dùng mưu mẹo, lừa địch, luôn thay đổi cách đánh đã đem lại hiệu quả cao, góp phần to lớn vào việc tiêu hao nhiều sinh lực địch phá huỷ, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Với cách đánh mưu trí, sáng tạo lối đánh tập trung kết hợp vật cản, công sự và uy lực của vũ khí thô sơ tự tạo đã ngăn chặn hoặc đánh bại các thủ đoạn bao vây, lấn chiếm, tiến công, càn quét của địch, làm cho địch phân tán lực lượng, luôn căng thẳng về tinh thần, do dự, lo sợ, giảm ý chí chiến đấu. Tờ thời báo Mỹ số ra ngày 28/11/1966, có đoạn viết: “Bất luận ở đâu, qua mỗi cuộc tuần tra, người lính nào cũng phải nghĩ rằng: Bước thêm bước nữa có thể là bước đi cuối cùng của đời mình”. Bằng các loại vũ khí thô sơ, tự tạo của quân và dân ta góp phần làm phong phú thêm cách đánh và nghệ thuật tác chiến của chiến tranh nhân dân. Chỉ tính riêng năm 1966, Mỹ thừa nhận 20% số lính Mỹ thương vong là do hầm chông và mìn của Việt cộng và sau đó con số thương vong của lính Mỹ càng tăng. Năm 1967, 50% số lính Mỹ thương vong của sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1 Mỹ và 25% tổng số thương vong của toàn lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ tại Việt Nam là do hầm chông cạm bẫy.

Ngày nay, trong điều kiện mới, nếu có chiến tranh chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc nhưng là cuộc chiến tranh nhân dân hiện đại góp phần chống lại cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao. Trên quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử, cuộc chiến tranh nhân dân hiện đại của nhân dân ta vẫn phải dựa trên nền tảng tư tưởng xuyên suốt của chiến tranh nhân dân và truyền thống đánh giặc của dân tộc Việt .

Đó là tư tưởng cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí. Bởi vậy, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, huy động toàn dân tham gia chế tạo vũ khí thô sơ tự tạo, sẵn sàng chiến đấu chống lại chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh xâm lược là vấn đề có ý nghĩa sống còn của Việt .

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam sưu tầm, xây dựng sưu tập vũ khí tự tạo của Việt Nam trong chiến tranh giải phóng (1945 - 1975) nhằm góp phần trao truyền kinh nghiệm, giáo dục truyền thống đánh giặc giữ nước cho các thế hệ mai sau, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, bảo vệ di sản văn hoá, giới thiệu nét đặc sắc của văn hoá quân sự Việt Nam với bạn bè quốc tế là một việc làm cấp bách, cần thiết.

Bộ sưu tập này dự kiến hoàn thành vào năm 2009 với tổng số hàng nghìn hiện vật.

Đây là một sưu tập hiện vật độc đáo phản ánh đậm nét cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân toàn diện của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phản ánh nét đặc sắc của văn hoá quân sự Việt . Sưu tập gồm những hiện vật vũ khí thô sơ tự tạo nóng, lạnh, đánh gần, đánh xa tiêu biểu của ba miền Bắc, Trung . Đặc biệt trong bộ sưu tập có trên 200 hiện vật do chính các nhân chứng lịch sử của Câu lạc bộ Quân giới Nam Bộ sản xuất.

Các loại vũ khí thô sơ tự tạo quân và dân ta sử dụng đánh địch trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã có những bước phát triển kỳ diệu. Đây không còn là những vũ khí phòng ngự cố định thụ động ở chiến tuyến tiền duyên nữa, mà đã biến những vũ khí tiến công ở bất cứ lúc nào, nơi nào, để trừng trị quân xâm lược. Trong cuộc chiến tranh Việt , “mìn, cạm bẫy, hầm chông” đã vượt xa khuôn khổ vũ khí, phương tiện trong chiến đấu, chiến thuật, mà đã trở thành điều mà các nhà nghiên cứu quân sự nước ngoài gọi là một “phương thức chiến tranh”.

Các nhà quân sự của Mỹ nghiên cứu tổng kết: Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, mìn, cạm bẫy, hầm chông đã được đối phương của Mỹ sử dụng rất rộng rãi và ác liệt gấp nhiều lần so với trong cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 và đã gây ra đến trên 50% tổng số thương vong của Mỹ trong cuộc chiến tranh này. Đối phương của chúng ta, quân đội Việt cộng, chắc rất lấy làm thích thú khi biết được rằng hơn một nửa trong tổng số mìn họ đặt và cạm bẫy họ gài, hầm chông họ đào, đã phát huy tác dụng, gây thương vong cho binh sĩ Mỹ. Họ đã đặt mìn, cạm bẫy, hầm chông để quấy rối các đơn vị Mỹ ngay ở những nơi, những lúc mà tại đó, khi đó, họ không hề có một đơn vị vũ trang nào. Quân đội Mỹ đã mất ăn mất ngủ vì thế, và đấy cũng là cách phía Việt cộng mở rộng các vùng kiểm soát của họ. Quan trọng hơn thế nữa, họ đã làm cho binh sĩ Mỹ mất tinh thần. Bất cứ ở lúc nào, người lính Mỹ cũng luôn luôn lo nơm nớp giẫm phải một quả mìn, một cạm bẫy, rơi tọt xuống một hầm chông được nghi trang kín đáo, tài tình nào đó. Điều đó đòi hỏi binh sĩ Mỹ lúc nào cũng phải cảnh giác và làm tinh thần họ luôn luôn căng thẳng. Nỗi lo sợ đó làm hạn chế rất lớn sự tự do hành động của các đơn vị Mỹ. Về phía Mỹ, cũng đã có lần bộ tư lệnh Mỹ cho rải những bãi mìn rộng lớn trên cái được gọi là “chiến tuyến Mắc Na-ma-ra” ở khu phi quân sự. Nhưng sau đó, phía Mỹ đành phải từ bỏ việc làm này vì các binh sĩ Việt cộng đã nhân đó gỡ đi các quả mìn Mỹ và lại sử dụng chính các quả mìn Mỹ đó để đánh lại quân Mỹ”.

Theo các nhà quân sự Mỹ “phương thức chiến tranh” này đã là một trong những yếu tố quan trọng làm đảo lộn nhiều tính toán, dự kiến của giới lý luận và chỉ huy quân sự Mỹ về chiến lược, chiến thuật, tổ chức biên chế, vũ khí trang bị chiến đấu trong học thuyết “chống chiến tranh nổi dậy” (học thuyết chiến tranh xâm lược chống các phong trào giải phóng dân tộc). Thử lấy một trong trăm nghìn ví dụ: “Sư đoàn ba tác dụng”, tổ chức “tân kỳ bậc nhất” của lục quân Mỹ với chiến thuật “đổ bộ thẳng đứng bằng trực thăng”, đã chẳng phát huy được mấy tác dụng trong một khu vực núi rừng hoặc cả đồng bằng đầy dẫy hầm chông, cạm bẫy, mìn, khiến lính Mỹ phải run rẩy đi dò từng bước để rồi bất ngờ bị giáng những đòn tiêu diệt nặng nề. Chính đấy là một trong những nét thần kỳ của “chiến tranh nhân dân” Việt mà giới quân sự đế quốc Mỹ đang ra sức nghiên cứu mà không sao khắc phục nổi. Và đây cũng là một biểu hiện sự bế tắc phá sản của “học thuyết chiến tranh chống nổi dậy” của bọn xâm lược, sen đầm quốc tế Hoa Kỳ.

Xin được giới thiệu một số loại vũ khí thô sơ tự tạo do quân và dân ta sản xuất trong bộ sưu tập quý giá này.

 
Chông cũi   Chông lăn
Mìn đánh xe MC 7
Ngòi mìn lá
 
Lựu đạn lon cá mòi
  Súng ngựa trời Đồng Khởi
Phi tiêu
Súng ngựa trời đánh tây

Nguồn: 
26-09-2013
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
THƯ VIỆN Video

s